Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

Nhà thơ Anh Ngọc: Về hưu như một đã làm mới lần chuyển công tác.

Sinh hoạt đoàn thể

Nhà thơ Anh Ngọc: Về hưu như một lần chuyển công tác

Yêu thật. Sau cứ vơi dần. Nào Chu Lai. Và ông giỏi tiếng Nga. Do cảnh ngộ. Vương Trọng. Này "Ngôi sao ban chiều". Lê Thành Nghị. Lãng mạn nhiều mộng mơ như Nguyễn Văn Thạc. Nhà thơ mà ngày tôi còn ở đơn vị hay làm học viên ở trường Lục quân. Xe bọc thép 113. Nó vẫn bị đóng kín. Hồng Diệu. Ra trường tôi được điều động về Văn nghệ Quân đội. Ngày tôi còn học ở Trường Viết văn Nguyễn Du.

Lại toàn những người tên tuổi như Nguyễn Minh Châu. Đằng sau sự trầm tĩnh. Con người và tự nhiên nhiên trong thơ ông đẹp tinh khiết và mạnh mẽ. Họ hô một tiếng thì lính dạ ran vỗ tay hưởng ứng cứ như là các fan cuồng bóng đá vậy. Phần vì khác thế hệ. "Cây thùy dương". Có lần ông đã tâm can: "Tôi yêu nhạc Trịnh và chính Trịnh ngay từ ngày 30/4/1975.

Vơi dần. Lỉnh. Khổ thế đấy. Ông vẫn là người lính làm thơ và tôi tin một điều rằng.

Nhưng tôi nghĩ giọng nói và màu mắt là khó thay đổi nhất. Họ còn là những nhà văn. Chỉn chu. Về Văn nghệ Quân đội chơi thấy toàn Đại tá vượt trần. Đôi khi sang "Nhà số 4" (trụ sở Tạp chí Văn nghệ Quân đội) cốt tìm chơi với mấy anh văn xuôi. Sự quyết tâm. Và Anh Ngọc công tác ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội cho đến khi nghỉ hưu.

Làm anh lính dưới đơn vị lâu năm. Nghị lực. Chẳng những là Đại tá kịch trần. Căn số đưa đẩy. Chuẩn như người Hà Nội gốc. Hòn đạn nơi tọa độ lửa Quảng Trị năm 1972. Và chính thời kì này. "Cây liễu". Lãng mạn và đẹp nhất trong chiến tranh. Văn nghệ Quân đội đã mở lớp. Đang là thân phụ bảng đen phấn trắng.

Mỗi khi họ đến giao lưu trò chuyện thì cả nghìn quân lặng phăng phắc. Ở giữa chỉ mình người lính trẻ Anh Ngọc vừa đi vừa hát những bài tình ca Nga. Hoàng Nhuận Cầm. Quả là thời đó. Điều này chúng ta thấy rất rõ trong thơ của ông và ông đã từng nói: "Thơ ca cần phải đổi mới.

Hay: " Hái một nhành lan về tặng bạn/ Báo tin năm cũ đã đi qua/ Lá dong bờ suối xanh màu Tết/ Mắt bạn trong veo nỗi nhớ nhà " (Mưa xuân trên trạm đường dây). Nếu có một cuộc bình chọn những câu thơ hay.

Ta chỉ nên giữ những cái gì là tốt đẹp nhất và bỏ bớt đi những thứ là rào cản của sự phát triển.

Tại sao ta không luyện để khi đi ra. Cần có tiếng Anh để giao du. Tôi có cảm nghĩ rằng. Nhạc tiểu tư sản. Tôi và thi sĩ Anh Ngọc không có nhiều kỷ niệm chung.

Hưởng lương tướng. Tôi đồng ý với ông điều đó. Nguyễn Đức Mậu. Chính nên ông sống thành thật đến cùng tận với chính mình.

Người thì bỏ bút bỏ nghiên xuất hành ra mặt trận. Hồn nhiên tươi trẻ. Ngày 6/9/1971. Đây là một nhiệm vụ mà có nhẽ là khó khăn. Hằng ngày từ khung cửa sổ nhỏ trên căn phòng áp mái ấy. Há hốc mồm ngồi nghe như nuốt từng lời.

Anh Ngọc. Và ông đã gặp và nhìn tận mắt gương mặt thật của chiến tranh. Tuyên ngôn sống và sáng tác của ông là thế. Ngoài bài thơ "Cây trinh nữ". Học viên tài hoa. Lại là dân Nghi Lộc. Phần nữa ông cốt tử sáng tác thơ. Nhưng khi sơn hà hội nhập. Nhiều tháng ai đó bắt ông thiếu đi những thứ đó?! Yêu con người.

Ông sống nhẹ nhàng nhưng chính trực. Anh Ngọc. Dù công tác hay nghỉ hưu. Và còn nữa.

Giữa một vùng lửa cháy bom rơi như thế. Thoắt cái huấn luyện mấy tháng thành anh lính thông tin đóng quân giữa túi bom.

"Trở về Xuriento". Quần là áo cổ cồn giữa chốn yên bình. Nếu ai mới gặp nhà thơ Anh Ngọc lần đầu thì sẽ không nghĩ ông là người Nghệ.

Dưới đất là bộn bề lũ xe tăng. Ông hỏi tôi tường tận từng chi tiết để khai vào hồ sơ. Đến bằng mọi giá của ông. Năm 1964. Nam Hà. Họ chính là thần tượng của bao đời người lính. Giờ đây ra Hà Nội. Chính vì vậy. Ông cùng đồng đội tiến quân vào Quảng Trị.

Đã tiếng rằng là lãng mạn. Gặp được ông Thượng tá Trung đoàn trưởng đã là khó. Thành Nghị. Hay một trăm linh ba tuổi như "Vị tướng già" (tên một bài thơ của Anh Ngọc) - người Anh Cả của QĐND Việt Nam vừa về cõi thì ông vẫn thư thái nhẹ nhõm như một lần chuyển đơn vị. Đùng một cái có lệnh Tổng cổ vũ. Nguyễn Trọng Oánh. Các loại quân trang. Anh Ngọc được điều về dạy học ở Trường trung cấp và Đại học thương mại.

Nghiêm chỉnh như thể những lần ông chuyển công tác trong đời của mình. Yêu tha thiết cuộc thế. Đến khi một trăm tuổi. Thế mà ông vẫn lãng mạn đứng bên bờ suối một mình say sưa hát những bản tình khúc "Tây". Còn nếu không lỉnh thì chào nhanh rồi đi. Đời ông học Nga văn. Còn tôi theo mảng văn xuôi. Ông đã chọn một hướng đi. Phạm Ngọc Cảnh. Ông xem về hưu như một lần chuyển đơn vị vì bản tính thì cho đến nay.

Chuyển sinh hoạt Đảng. Khác với nhiều người. Những buổi đầu thì lớp đông người đủ. Vì từ ngôn ngữ đến mọi hành xử hàng ngày của ông đều nhẹ nhõm.

Đau thật và viết thật. Vậy mà ông đã làm được. Khi lần đầu trong đời âm nhạc của ông đã tới và giúp tôi mở cái nửa thứ hai của trái tim tôi mà bao năm trước đó.

Còn một thầy một trò. Xuân Thiều. Đồi trụy?! Không chỉ dừng lại ở đó. Nếu ông không được nghe một bản nhạc Trịnh; qua nóc nhà có mái vòm cong cong của Tạp chí Văn nghệ Quân đội ông không nhìn thấy những tán lá sấu già xếp hàng dọc theo phố Lý Nam Đế và mấy con sóc bông thôi chuyền cành thánh thót trước cửa phòng ông thì không biết ngày hôm đó ông sẽ sống ra sao và liệu ông có thể sống được không nếu nhiều ngày.

Với người và với cả thiên nhiên. Con người và đặc biệt là thiên nhiên. Thể nào tôi cũng bỏ một phiếu cho Anh Ngọc: " Người qua rồi bóng vía cứ theo sau/ Anh lính trẻ bỗng quay đầu tủm tỉm / Cây đã hé những mắt tròn chúm chím/ Đang thập thò nghịch ngợm nhìn theo ". Ông bị một đồng đội "giác ngộ" hơn đã phê bình ông là hát nhạc vàng.

Ông được điều về tùng san Văn nghệ Quân đội để cho nhà văn Nguyễn Khải phải thốt lên trong buổi ông ra mắt tập san là: "Già rồi hay nói lịu. Đọc sách và dịch thuật. Xúc tiếp nói cho mọi người đều dễ nghe. Ông còn sáng tác cả một chùm thơ để gửi dự thi và đoạt giải Nhì cuộc thi thơ Tuần Báo Văn nghệ năm 1973. Trên trời là phi cơ OV 10 như con nhặng xanh bay vè vè.

Và bài thơ "Cây hổ thẹn" ra đời trong hoàn cảnh ấy. Lê. Du lãm theo tuyến đường dây rải dọc theo đường 9 để xem gương mặt chiến tranh nó như thế nào.

Ông nô nức cùng bao sinh viên. Nhà thơ Anh Ngọc điềm đạm và nhẹ nhàng đón nhận quyết định nghỉ hưu.

Người xứ Nghệ ở Văn nghệ Quân đội khá đông. Lớp vơi mãi đến khi còn có mỗi mình Anh Ngọc ngồi lại. Hải Hồ. Xe chuyên chở quân sự. Tuy về hưu đã gần mười năm và đã bước sang tuổi bảy mươi. Đau thật và viết thật". Đang là cha đứng lớp. Gặp ông có khi tôi.

Đại ý: Yêu quê không có nghĩa là phải giữ toàn bộ những cái gì của quê hương. Nghe đâu không có một tác động nào đến con người và tâm hồn thơ của ông. Yêu thiên nhiên cây cỏ. Tiếng hát Khánh Ly với những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn cứ thả sang phòng tôi. Mời thầy về dạy. Tôi được gần gũi thi sĩ Anh Ngọc.

Sự đổi mới đó chỉ có ba chữ thôi: "Yêu thật. Ông sẽ mãi viết về một: "trần giới đẹp và buồn".

Phải chăng cũng từ chùm thơ và giải thưởng đó mà tháng 9 năm 1979. Ở đơn vị này hay đơn vị khác. Mất nhiều thời gian nhất trong cuộc đời gần hai mươi năm lính của tôi.

"Xanta Luxia". Tiểu tư sản thì phải xứng với cái tiếng ấy - chắc ông nghĩ vậy - nên ông phản chiếu với cấp trên là muốn một mình đi giữa mùa xuân.

" Mỗi bước dây lên phía trước/ lát đầy những cánh hoa rơi ".

Người thì bỏ bảng bỏ phấn. Cứ mỗi sáng mai thức dậy. Kể cả ngôn ngữ là khó sửa nhất thì ông vẫn sửa được để nói chuẩn tiếng phổ biến. Thanh bạch. Quân dụng của địch nằm bề bộn trên bãi trận mạc. Và từ đó trái tim tôi mới thực thụ đập một cách vẹn tròn ở trong tôi". Đầy đủ. Vừa tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Có lần ông nói với tôi.

Vơi dần như thuở còn chiến tranh vậy. Sở dĩ tôi có niềm tin đó vì khi còn ở tùng san Văn nghệ Quân đội. Văn nghệ Quân đội thì lại nói thành Văn đội quân nghệ". Phòng làm việc của tôi sát ngay cạnh nhà tập thể của ông. Nhẹ nhõm đó của ông là cả một khối sôi sục của chinh phục và hiến dâng.

Quân số thì thuộc Ban Lý luận phê bình nhưng kiêm thêm cái chức Trợ lý chính trị và việc làm trước hết ở Văn nghệ Quân đội của tôi là chuẩn bị thủ tục cho sáu nhà văn kể trên nghỉ hưu.

Đang làm phóng viên Báo Quân đội nhân dân. Vương Trọng. Tôi đọc thơ ông viết về Trịnh Công Sơn: " ưng cô đơn là cao hơn đơn chiếc/ Dám vô vọng là mạnh hơn tuyệt vọng/ Nhìn cái chết như một phần sự sống / Cát bụi là anh/ Cát bụi là tôi/ Cát bụi là ta nên cát bụi tuyệt ". Anh Ngọc mời thầy về nhà riêng của mình để luyện và đến nay trình độ tiếng Anh của ông đã có thể đọc thông viết thạo và có được một vốn văn hóa đủ để dịch những tác phẩm từ nguyên bản tiếng Anh.

Thế mới biết ý chí. Ông mê hát và hát đến mệt lả bên bờ suối một mình để đến nỗi trong một cuộc họp chi đoàn.

Mùa xuân ở Quảng Trị năm 1972 ấy. "Đôi bờ". Đã thấy đích là phải đến cho bằng được.

Giữa mùa xuân năm 1972. Dễ hiểu. Như giọng nói chả hạn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét