Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

Mách nhỏ Họa sĩ Lương Xuân Đoàn - Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa Văn nghệ, Ban truyền đạo TƯ: Đời sống văn nghệ cần sự trung thực, sòng phẳng.

Mặc dù cái thuận lợi thì rất lớn: vì những giá trị chủ chốt từ Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị ra đời từ năm 1987 đến giờ vẫn không suy suyển, như quý trọng tự do sáng tạo cá nhân chủ nghĩa, bằng lòng mọi phong cách và khuynh hướng sáng tác…  Xin trân trọng cảm ơn ông!   Cẩm Thúy - Nguyễn thái hoà    (thực hành)

Họa sĩ Lương Xuân Đoàn - Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa Văn nghệ, Ban Tuyên giáo TƯ: Đời sống văn nghệ cần sự trung thực, sòng phẳng

Cũng như cái luật thứ hai mà tôi thấy cần, đó là luật hành nghề tự do mà ở ta chưa có. Thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến đầy rẫy những câu chuyện buồn của đời sống văn nghệ. Trong giới văn nghệ, sự cố chấp, đố kỵ, thù dai vẫn chưa hề suy suyển. Tôi cho là phải có sự bế tắc và khủng hoảng ấy để cho thấy đã đến lúc phải định vị lại bức tranh toàn cảnh văn nghệ nước nhà một cách xác thực nhất.

Nhìn đâu cũng thấy cái xấu, nhìn đâu cũng thấy cái dở, nhìn đâu cũng thấy đáng báo động. Thế giới phẳng rồi. Tôi đồng ý rằng, cái lợi thế của thời đại bùng nổ thông tin cũng làm cho bản thân đời sống văn nghệ chẳng thể đứng yên một chỗ mà buộc phải đổi thay. Trong đời sống văn nghệ bây giờ, tự bảo trọng được phẩm cách cá nhân chủ nghĩa là một việc không đơn giản, nhất là với người trẻ.

Mạch ngầm thì vẫn chảy, nhưng chậm và có phần… thản nhiên. Đề cương Văn hóa 1943 là một bước ngoặt quan trọng, cho thấy sự nhạy bén ở tầm chiến lược của Đảng ta đối với văn nghệ.

Đời sống văn nghệ cần một sự chân thực, sòng phẳng của luật pháp chứ đừng biến thành cái cách cư xử cảm tính, ăn xổi, đuổi theo vụ việc để quản lý. Có thể chính là bởi cái văn hóa nền cốt của nhà nước đang có vấn đề, bản thân cái sự trồi sụt qua từng thời kỳ nó cũng làm cho sự tự trưởng thành của nghệ sĩ có khó khăn hơn so với thời kỳ trước chăng? Sự xuất hiện những câu chuyện mới của đời sống nghệ thuật cho ta cảm giác nhanh hơn, nhưng cái sự vững bền của nó thì làm ta băn khoăn hơn.

Bởi chúng ta không còn là ốc đảo riêng biệt nữa. Về mặt bằng, tôi nghĩ không vô khối lực lượng để làm đổi thay và xoay chuyển đời sống văn nghệ. Nếu trong phút giây, ta có thể thích một bức tranh, nhưng không bền, thậm chí ngay ngày hôm sau đã không còn thích được nữa. Chúng ta nhìn lại tất tật những giá trị đã được xác lập từ dĩ vãng, kể cả quá cố gần nhất - từ 1945 trở lại đây bắt đầu hình thành Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thành ra, chúng ta thấy cho đến lúc này những giá trị cũ nó vẫn không cũ, vẫn thiết lập được chỗ đứng và tự bảo trọng được những giá trị mà nó đã làm ra trong quá cố, dù bây giờ đã thêm quá nhiều những thế hệ tiếp nối. Bởi bản thân những người nghệ sĩ mà ta hi vọng, họ cũng chỉ cố sức lên được một tẹo như thế, rồi khựng lại.

Cho nên, tiếp cận nhanh, bước nhanh ra thế giới bên ngoài thì không khó, nhưng cái khó là từ cái nhanh ấy thì bản thân chúng thay đổi lại đời sống văn học nghệ thuật của chúng ta như thế nào? Liệu đời trẻ đã đủ hình hài lành lẽ, thể chất lành sạch để có thể tiếp thu tinh hoa loài người, càng nhiều càng tốt, để làm cuộc biến đổi về chất của cơ thể nghệ thuật Việt Nam? Đó là điều mà các đời đi trước như chúng tôi vô cùng ước ao, chờ.

Bởi vậy, mỗi lần xuất hiện thêm một nghệ sĩ khác, một cách nhìn mới, một cách nghĩ khác thì chúng ta nên mừng. Chúng ta thấy hiện thời không phải là tiền.

Tôi đã có lần đàm luận thì có Ý kiến phản ứng: Tại sao ông này lại yêu cầu có luật, văn chương nghệ thuật cần gì phải luật? Nhưng họ đã hiểu đơn giản. Nếu chúng ta nhìn kỹ thì bài học về phẩm cách nghệ sĩ không bao giờ cũ. Vì sao bây chừ nhiều giá trị bị mất nhanh? Tại sao ngày xưa có những nghệ sĩ họ đã im lặng sáng tạo suốt 30 năm mới công bố những triển lãm cá nhân chủ nghĩa như Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm nhưng họ không suy suyển phẩm cách của họ? Khi họ xuất hiện với sự nghiệp mỹ thuật của họ thì sự nghiệp ấy là khổng lồ, nó chứng minh cho phẩm cách và thiên tài của họ đã được bảo trọng.

Trong khi không thể phủ nhận là lớp trẻ hiện tại tiếp cận với văn minh nhanh hơn, điều kiện sáng tạo tốt hơn, sự vướng víu của họ mà ông vừa nói phải chăng là bởi chạy theo phần nổi mà thiếu vắng nền móng văn hóa căn bản để hấp thụ rồi biến thành bản sắc dân tộc mình?  - Tôi cũng đang muốn tìm hiểu để lý giải những băn khoăn đó.

Tôi nghĩ cái thăng trầm của đời sống văn nghệ Việt Nam có nhẽ nó cũng bám riết lấy thăng trầm của lịch sử dân tộc. Bài học về phẩm cách nghệ sĩ không bao giờ cũ   Ông là người lạc quan chăng vì khi nói về đời sống văn hóa hôm nay, nhiều người lại luôn chỉ nghĩ đến sự cực, đảo lộn các giá trị và để lừng danh thì rất dễ?  - Tôi chỉ nói riêng về mỹ thuật, thế hệ vàng của mỹ thuật Đông Dương đã đặt nền móng và chưa ai bước qua được.

Mặc dầu đang quá vắng. Nhưng rời không gian ảo ra thì kiên cố sẽ thấy những câu chuyện khác, đời sống khác của nền văn học nghệ thuật Việt Nam tươi tắn hơn

Họa sĩ Lương Xuân Đoàn - Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa Văn nghệ, Ban Tuyên giáo TƯ: Đời sống văn nghệ cần sự trung thực, sòng phẳng

Với chất lượng đào tạo như hiện, thì rõ ràng nền cốt văn hóa của họ tôi thấy cũng rất phong phanh. Thế nhưng, ở đây, tôi lại phải trở lại câu chuyện là: khi thế giới thật gần với người Việt, kể cả với những đứa trẻ, thì cái thảm kịch cũng có thể bắt đầu từ đó.

Mạch ngầm vẫn chảy, nhưng chậm và thản nhiên   - Vậy là sự ồn ã chỉ đến từ không gian ảo của mạng, ở đời sống thực, một mạch ngầm những giá trị văn hóa thực sự vẫn đang tha thiết chảy, thưa ông?  Những giá trị ảo làm ác hại cho đời sống văn nghệ.

Sự thăng trầm của đời sống văn nghệ Việt Nam gắn với thăng trầm của lịch sử dân tộc   Ông vừa nhắc tới cả một chặng đường dài, xuyên suốt gần một thế kỷ những chủ trương của Đảng về văn hóa ở mỗi thời kỳ khác nhau, thích hợp với bối cảnh lịch sử của từng thời kỳ ấy?  - Tôi nghĩ ở mỗi giai đoạn của đời sống văn nghệ Việt Nam đều có những cái thuận và cái nghịch để thay đổi và phát triển.

Nhưng liền đó, cũng phơi bày nhiều bất cập trong cách hoạt động, quảng bá. Và không thiếu lực lượng để thay đổi đời sống văn nghệ như ông vừa nói ở trên, tức thị ngày hôm nay không thiếu vắng thiên tài như mọi người vẫn nghĩ?  - Hình ảnh người nghệ sĩ độc lập là hình ảnh của đời sống văn hóa nghệ thuật Việt Nam lúc này.

Giờ, nếu nhìn vào bức tranh văn nghệ qua các không gian ảo của mạng internet thì cũng thấy bi quan rất nhiều.

Họ phản ứng với ông là bởi nhiều người vẫn đổ lỗi cho cơ chế, cho chính sách làm ngăn cản sự xuất hiện của tài năng, cản trở sáng tạo?   - Tôi mong muốn quốc gia cần có nghĩa vụ lớn, lớn nữa. Thành ra, theo tôi, đã đến lúc ta cần một cái luật chung cho văn chương nghệ thuật.

3 năm sau, nhiều nghệ sĩ đã trở thành đội viên đồng hành cùng dân tộc và cách mạng: Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng… Hơn 40 năm sau, trong bối cảnh Đảng đề xướng công cuộc Đổi mới ở Việt Nam, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 05 năm 1987, và bước tiếp theo là NQTƯ 5 (khóa VIII) mở ra bước phát triển mới, toàn diện, rộng khắp hơn của đời sống văn nghệ.

Rời không gian mạng, đời sống văn nghệ tươi tỉnh hơn   Ông có cảm thấy bi quan không?  - Tôi không bi quan đâu. Soi lại, liệu chúng ta đã có một thân thể khỏe mạnh đủ sức đề kháng để "dàn hàng ngang” trong cái thế giới phẳng đó chưa? Tôi cho là chúng ta phải xem lại bản thể của các nghệ sĩ trẻ hiện nay.

Cố nhiên, không phải đưa ra luật để tạo thành những áp lực cho người nghệ sĩ đâu. Càng ngày càng thấy Nhà nước rót nhiều tiền cho văn nghệ. Điều đó khiến cho bản thân người nghệ sĩ không thể bước ra khỏi bức tranh từng lớp của người Việt. Và gần đây nhất NQ23 của Bộ Chính trị mở ra những cánh cửa hội nhập toàn cầu cho giới văn nghệ Việt Nam. Tỉ dụ sang đầu thế kỷ 21 các họa sĩ Việt Nam vẫn chưa đủ sức mở ra một trang mới của mỹ thuật Việt Nam.

Cho đến khi anh cần trị đến nơi đến chốn một vấn đề gì đó thì lại không có luật. Phải có luật cho hoạt động văn học nghệ thuật   Ý kiến của ông về sự khác nhau giữa đời sống thực và những giá trị ảo trên mạng đang chính là đề nghị bức thiết đòi hỏi những biện pháp trong quản lý văn hóa?  - Cho đến lúc này, nói một cách nghiêm trang, chúng ta vẫn chưa có luật chung cho hoạt động văn học nghệ thuật.

Luật hành nghề tự do nó khẳng định cái nhân cách pháp nhân của người nghệ sĩ. Nhưng vì sao nó vẫn cứ vướng? vì sao những cữ và thí điểm của nghệ sĩ trẻ - ở bất cứ lĩnh vực nào: văn chương, âm nhạc, sàn diễn, múa hay mỹ thuật, nhiếp ảnh, kiến trúc… - cũng đều dễ nhận thấy sự vướng víu.

Nhưng vì sao văn nghệ không phát triển với những giá trị thực thụ? Tôi nghĩ vẫn chưa hội đủ nội lực để tạo nên sứ mạng mới của những người trẻ tuổi.

Theo đó, cũng phải có những người để tiếp thu sự đổi thay ấy. Mặc dù đúng là nếu chúng ta chỉ xét trên cái mặt bằng tuần tra, đơn giản, thì hiện tại dễ nổi tiếng hơn. Chính điều đó khiến đời sống nghệ thuật trở nên mệt mỏi. Ảnh: Quang Minh   Tầm chiến lược của Đề cương Văn hóa 1943   PV: Thưa ông, nhiều nhà nghiên cứu bây giờ đánh giá, ý nghĩa quan yếu nhất của Đề cương Văn hóa 1943 là nhờ chính cương đó mà tập hợp được đông đảo hàng ngũ văn nghệ sĩ, trí thức một lòng đi theo cách mệnh?   Họa sĩ Lương Xuân Đoàn  : Đúng vậy.

Cái luật ấy nó cần phải hướng đến sự cẩn trọng, căn chỉnh và tạo điều kiện cho sự tự do sáng tạo chứ không phải là triệt tiêu sáng tạo.

Họa sĩ Lương Xuân Đoàn   Liệu chúng ta đã có một cơ thể đủ sức đề kháng với thế giới phẳng chưa?   Còn sự hội nhập thì sao thưa ông, nó tác động thế nào đến đời sống văn nghệ và liệu đó có phải là nguyên cớ của bức tranh văn hóa toàn cảnh khá hỗn độn hôm nay?  - Đến giờ, chúng ta đều nhận thấy nền văn nghệ Việt Nam trở thành tự tín hơn trong sự đa dạng khi đồng nhịp với thế giới bên ngoài.

Không còn cái hình ảnh những đời tiến cùng tiến, lui cùng lui như trước đây nữa.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét