Vày, thể chế và chính sách văn hóa của Đảng và nhà nước xoành xoạch là những điều kiện cần thiết có tính quyết định đối với việc giải quyết nhu cầu và năng lực của sáng tạo văn hóa
Nhận thức và tinh thần của chúng ta về bảo tồn các di sản văn hóa và bản sắc, bảo vệ sự đa dạng văn hóa của mình trong một thế giới toàn cầu hóa về kinh tế và công nghệ cũng đã và đang được nâng cao một cách rõ rệt, nhằm bảo vệ ngày càng tốt hơn sự sáng tạo văn hóa của giang sơn trước những ảnh hưởng và tác động của quá trình này.
Từ đó đến nay, chính sách văn hóa Việt Nam trong thời kỳ này đã biểu đạt rõ việc kế thừa các nhân tố hăng hái, hợp lý trong thể chế văn hóa thời đoạn trước đây với việc tìm tòi, áp dụng những hình thức, phương pháp quản lý sản xuất, phổ thông và tiêu thụ văn hóa mới.
Tuốt tuột được mô tả qua các dụng cụ chính sách như: Luật văn hóa, cơ chế tài chính, dân chủ hóa, phân cấp phân quyền, sự liên thông khoa học công nghệ và marketing. Muốn đạt được đích cao cả đó, chúng ta cần đổi mới tư duy văn hóa sao cho ngang tầm với đổi mới tư duy kinh tế như chúng ta đã và đang thực hiện. Đồng thời hài lòng thiên hướng đa dạng hóa văn hóa nghệ thuật.
Quá trình chuyển đổi này, chúng ta từng bước xóa bỏ quan liêu bao cấp trong kinh tế, đa dạng hóa các thành phần kinh tế, tăng cường sự điều tiết của quốc gia đối với kinh tế vĩ mô, phóng thích mọi tiềm năng kinh tế của quần chúng và điều chỉnh các lợi. Tỉ dụ, trong quá trình hội nhập mạnh mẽ ấy, đã có nhịp cho sự du nhập những tư tưởng, lối sống phương Tây đang gây ra những tác động đa chiều trong đời sống tinh thần, đạo đức tầng lớp, dẫn đến những diễn đạt mơ hồ trong tư tưởng nhận thức ở một bộ phận văn nghệ sĩ.
Xã hội theo hướng công bằng, dân chủ, văn minh. Chính sách văn hóa mà ta hướng tới là một chính sách văn hóa hiện thực hóa được những tư tưởng căn bản trong các Nghị quyết của Đảng ta về văn hóa, bản tính là ý chí, quan điểm và định hướng, tạo điều kiện cơ bản để quản lý văn hóa của giang san với tư cách là dụng cụ hiệu quả để thiết lập cuộc sống tốt đẹp đồng thời với việc phát triển một nền sản xuất và thị trường văn hóa lành mạnh.
Biến văn hóa thành nguồn lực nội sinh của quá trình phát triển kinh tế và xã hộ. Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, khuynh hướng chủ đạo của văn hóa nước nhà vẫn bền chí quan điểm bảo vệ độc lập tự chủ, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam đồng thời với việc xác lập tính chất song hành giữa cá tính sáng tạo và trách nhiệm từng lớp của giới nghệ sĩ trong cơ chế thị trường.
Cũng trong bối cảnh đó, văn hóa Việt Nam đã và đang hội nhập quốc tế mạnh mẽ và sâu rộng hơn với thế chủ động nắm bắt cơ hội và sẵn sàng vượt qua thách thức.
Tuy nhiên, những đổi mới quy trình sáng tạo văn hóa này cũng đòi hỏi đổi mới thể chế và chính sách văn hóa ở nước ta. Việc thích ứng với công nghệ không bao biện cho việc phá bỏ những chuẩn mực và những lệ luật chung; trái lại luật bản quyền phải được mở mang nhằm bảo vệ lợi quyền của nghệ sĩ cũng như bảo đảm một cách chung nhất những công việc mang tính sáng tạo.
Đòi hỏi về đa văn hóa là phản ứng chung có tính quốc tế phát khởi từ châu Âu chống lại cái gọi là văn hóa Mc Donald. Tác động của quá trình toàn cầu hóa, mà qua đó, những vấn đề của xã hội hậu công nghiệp tin học và hậu đương đại sẽ có những ảnh hưởng vừa hăng hái vừa thụ động. Toàn cầu hóa thúc đẩy hội nhập văn hóa diễn ra mạnh mẽ và rộng khắp.
Chính sách văn hóa phải làm sao cho mỗi cá nhân riêng lẻ thân thiện hơn nữa với văn hóa. Truyền bá quan họ Việt Nam - Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại Pháp Hơn 15 năm thực hiện quyết nghị Trung ương 5 (khóa VIII), về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiền tiến, đượm đà bản sắc dân tộc" đã góp phần tôn cao nền móng văn hóa tinh thần của dân tộc, hoàn thành tốt chiến lược con người, từng bước hiện thực hóa những tư tưởng của chủ toạ Hồ Chí Minh về vai trò của văn hóa trong sự phát triển con người toàn diện.
Chính sách đó phải làm cho văn hóa thấm sâu vào tâm hồn và đánh thức tiềm năng của con người như chúng ta thường nói. Trong điều kiện cơ chế thị trường và mở mang giao lưu quốc tế.
Chính sách văn hóa cần trở nên phương tiện cho sự phát triển, mở rộng mọi nguồn lực vào phát triển văn hóa của tổ quốc trong đó phát triển con người là nhiệm vụ hàng đầu và trọng tâm.
4. Sự tác động tương hỗ và chuyển giao văn hóa này có ảnh hưởng rất đáng kể tới phong cách sống của con người và tới cả sự sáng tạo văn hóa của sơn hà ta. Thể chế văn hóa và chính sách văn hóa đóng vai trò quan trọng có tính quyết định tới sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, mặn mà bản sắc dân tộc, nhằm đáp ứng nguồn nhân lực cho thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và chủ động hội nhập quốc tế bây giờ.
Cũng trong bối cảnh ấy, bảo vệ quyền tác giả đã trở thành một nguyên tắc cơ bản. 1. Do đó, trong văn hóa càng thể hiện những xu hướng biến đổi phức tạp và những diễn biến vượt tầm kiểm soát.
Một chính sách văn hóa vì sự tiến bộ của con người trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng tầng lớp chủ nghĩa ở thời kỳ CNH, HĐH của nước ta có rất nhiều sự khác biệt với các nước khác. Mặt khác, các thiết chế bảo vệ bản quyền được tầng lớp ghi nhận, cần phải bảo vệ nghệ sĩ, ủng hộ các phong cách nghệ thuật, phong cách biểu lộ mới, trổi, giàu kinh nghiệm và trí não.
Sự đổi mới chính sách văn hóa ở nước ta đã diễn ra trên nhiều bình diện: xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về văn hóa; đổi mới phương thức hoạt động, phương thức sinh sản, kinh dinh của các đơn vị sự nghiệp văn hóa, các doanh nghiệp và các cá nhân hoạt động văn hóa; đổi mới trong hoạt động tự quản về văn hóa của các cộng đồng dân cư và phát huy vai trò của các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội, nghề nghiệp và cá nhân trong hoạt động văn hóa (từng lớp hóa hoạt động văn hóa); đổi mới trong hoạt động xây dựng các thể chế văn hóa ở Trung ương và địa phương.
Những hình thức mới của sáng tạo văn hóa này có tác động đa chiều tới cả sự sáng tạo cá nhân chủ nghĩa lẫn sự hưởng thụ của đông đảo dân chúng.
Công nghệ số, các sản phẩm nghe nhìn, các sản phẩm truyền thông đại chúng đôi khi đã và đang vi phạm quyền tác giả. Đổi mới tư duy văn hóa ở đây có nghĩa phải biết đặt phát triển văn hóa ngang tầm với phát triển kinh tế. Nguy cơ rõ rệt nhất của toàn cầu hóa là nhất thể hóa về văn hóa của những nền văn hóa dựa trên nền tảng kinh tế và công nghệ mạnh.
Đây chính là nhịp tốt cho sự phát triển các năng lực cá nhân và tự do cá nhân - một trong những điều kiện cho sự sáng tạo văn hóa nghệ thuật có thể phát triển mạnh mẽ.
3. Trong kinh tế thị trường, sự sáng tạo cá nhân được nhân lên và mở rộng theo hướng công nghiệp hóa và thị trường hóa. 5. Trong sự tác động và ảnh hưởng của kinh tế thị trường, của quá trình CNH, HĐH, trên sơn hà ta cũng đã và đang ra đời những hình thức mới của sự sáng tạo văn hóa: sinh sản văn hóa, công nghiệp văn hóa và thị trường văn hóa. TS NGUYỄN TRI NGUYÊN. Có thể nói, một chính sách văn hóa tốt và có hiệu lực tầng lớp rộng lớn phải làm sao cho sự phát triển văn hóa đi từ bên ngoài vào bên trong, đi vào cấp tâm lý của con người và cơ chế tinh thần của vô thức cộng đồng.
2. Những đòi hỏi trên đây về sự đổi mới sáng tạo văn hóa đã được đáp ứng bởi những chuyển đổi cơ cấu kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, nền công nghiệp văn hóa vốn quý trọng ích kinh tế sẽ tạo áp lực chẳng thể tránh khỏi giữa một bên là những đích văn hóa căn bản nhất và một bên là tính chất thị trường; hoặc giữa một bên là những quan hoài có tính thương nghiệp và một bên là mong muốn một nội dung phản ảnh được sự phong phú, đa dạng của văn hóa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét