Cháo hẹ: hẹ tươi 60g, gạo tẻ 100g
Chữa ho trẻ nít: lá hẹ 15g, hoa đu đủ đực 15g, hạt chanh 20 hạt. Tôm xào hẹ, gừng tươi. Dùng cho bệnh nhân nôn do trào ngược thực quản. Trị tiêu khát.
Chữa giun kim, ra mồ hôi trộm ở trẻ nít: lá hẹ 30g, ép lấy nước, thêm 10 - 20ml vào bã lá và ép gạn; hợp 2 nước ép, thêm mật ong đủ ngọt để uống. Rau hẹ, hồ đào xào dầu vừng: rau hẹ 240g, hồ đào nhân 60g.
Ngày 1 lần; ăn liên tiếp 3 - 5 tháng. Theo Đông y, hẹ vị cay, tính ôn; vào can, vị, thận. Hãm nước cho uống. Tiểu Lan.
Hằng ngày có thể dùng 30 - 100g dưới dạng vắt ép lấy nước, xào nấu. Dùng cho bệnh nhân đau lưng liệt dương. Nấu cháo gạo, khi cháo được cho hẹ vào, thêm muối vừa ăn.
Xào với dầu vừng, ngày ăn 1 lần, dùng trong 1 tháng. Dùng 3 - 4 ngày. BS. Nước sắc hẹ cam thảo: hẹ tươi 30g, cam thảo 15g. Dùng cho bệnh nhân đau bụng ỉa chảy, liệt dương di tinh.
Theo kinh nghiệm dân gian, lá và thân hẹ chữa ho trẻ mỏ, hen suyễn, giun kim, lỵ amíp, tiêu hóa kém. Dùng cho các trường hợp đau tức vùng ngực, nấc cụt, nôn thổ huyết, niệu huyết, trĩ xuất huyết, bệnh tiểu đường, dị ứng nổi ban, liệt dương di tinh.
Canh hẹ: rau hẹ 200 - 300g. Dùng cho các trường hợp ho suyễn lâu có tính chất dị ứng. Trộn đều, hâm nóng cho uống. Luộc hay nấu canh với ít muối. Kiêng kỵ: Người bị sốt nóng, viêm nhiễm lở ngứa, đau mắt đỏ không dùng. Dùng cho bệnh nhân nổi ban, mề đay. Xào với dầu thực vật, ăn nóng. Suyễn nguy cấp: lá hẹ 50g, sắc với 200ml nước còn 50ml.
Hẹ rửa sạch để ráo, cắt đoạn; cam thảo thái lát mỏng. Có thể làm rau ăn trong ngày. Bún (mỳ) xào hẹ: bún (mỳ) 150 - 200g, hẹ tươi 60 -100g, có thể thêm thịt nạc hoặc tôm nõn 50g, gừng tươi.
Có tác dụng ôn trung hành khí, kiện vị, tán ứ giải độc, bổ thận tráng dương.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét