Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

Đi tìm sự thật hay hay ở nhà trường Việt Nam.

Cuộc nội chiến ở Mỹ chấm dứt năm 1863 nhưng đến bây giờ, 150 năm sau, nhiều ngưòi ở miền Nam vẫn không chịu đóng trang sử đó lại

Đi tìm sự thật ở nhà trường Việt Nam

Trong khi đó, bên Á châu chúng ta đặt trật tự xã hội và tôn vinh những người thày quan trọng hơn là liên tiếp tìm ra sự thực.

Khi tranh luận, có nhất mực phải đi tới cùng không, thưa ông?  - Không. Trong các môn khoa học tự nhiên, người nghiên cứu có thể chứng minh được sự thực khi dùng những dữ kiện hay thí nghiệm tự nhiên vào việc này.

Nhưng họ đã hay sẽ qua mặt chúng ta hết. Chúng ta hành tội, áp đảo những ai có quan điểm khác với “truyền thống” hoặc đặt những câu hỏi khó trả lời.

Hoặc hiện thời nhiều nhà từng lớp học hay tâm lý học kết luận là cái triết lý “cho roi cho vọt” vô tình dạy cho con cháu mình bài học vũ lực giải quyết được mọi việc. Đến thế kỷ này chúng ta đã chứng minh ngược lại. Ảnh: CNN Cái giá trị thực sự của giáo dục phải là một phương pháp, một lề thói, và một lối sống tự tìm tòi, tự đánh giá, và tự tuyển lựa suốt đời.

Tôi vẫn nghĩ sắc tộc này phát huy được nhiều hào kiệt một phần là do truyền thống bàn cãi từ trong gia đình ra đến xã hội. Chúng ta chỉ trưởng thành khi bằng lòng không có gì tuyệt đối   Có giảng sư đại học san sớt rằng điều chị thất vọng nhất đối với sinh viên là họ không bao giờ đặt câu hỏi hay nhận xét về bài giảng, cho dù có được mời, hay có thời kì chuẩn bị.

Theo ông, những nhân tố nào đã làm bại liệt tư duy phản biện của những người ngày ngày được lĩnh hội tri thức mới?  - nhân tố quan yếu nhất vẫn là lối dạy và học từ chương của Trung quốc và của ta. Tôi nghĩ “tư duy phán đoán” có lẽ đúng hơn.

Các cuộc chiến ở Việt Nam ta trong thế kỷ trước cũng không khác; bao nhiêu điều vẫn còn bí ẩn. Với một nền giáo dục bây giờ vẫn còn loay hoay chuyển mình từ “đọc chép” sang “lấy người học làm trung tâm”, thì tương lai của bàn cãi sẽ như thế nào, thưa ông?  - Hai chữ: mịt mù.

GS Vu Đức Vượng  “Tư duy phản biện” mới chỉ được dạy một chiều   Ông có thể cho biết cụ thể về bàn cãi trong giáo dục?  - tranh luận là xương sống của giáo dục.

Ngay ở những lớp thấp nhất, như mẫu giáo, giảng sư khéo léo có thể lái những cuộc cãi vã giữa các em thành một cuộc bàn cãi có lý lẽ, dựa trên logic và quyền lợi chung… như vậy cô giáo vừa dạy một kỹ năng sống trong nhóm, vừa dạy kỹ năng tranh luận dựa trên lý trí chứ không trên xúc cảm nhất thời. Một nhân tố nữa có thể là chính sách quá rắn rỏi, đến bóp nghẹt sinh khí của học trò, sinh viên, của nước ta từ thời phong kiến, sang thời thực dân, và tiếp hơn nửa thế kỷ nay.

Trong hơn hai nghìn năm, chúng ta theo gương Trung quốc: Khổng tử không thể nói điều gì sai và những gì từ thế giới bên ngoài đều là “man ri, mọi rợ”. Tôi cũng không thích lắm mức “tư duy phản biện” để dịch “critical thinking” vì nó ám chỉ một lối tranh biện thù nghịch chứ không phải chuyên chú tìm ra sự thật.

Nên, cái “cùng” nó “vô cùng” lắm. ” Tranh biện là một hình thức tranh cử phổ quát ở Mỹ. Người Nhật đã bỏ được lối học đó khi Minh Trị lên ngôi năm 1868, và chúng ta đã chứng kiến kết quả vượt bực của họ trong hơn một thế kỷ qua.

Nếu chúng ta chỉ dạy con em “dựa cột mà nghe” hoặc “im lặng là vàng” thì làm sao chúng ta có thể chờ mong các em tranh cãi sắc bén và thú được?  Một ngày mai… mịt mù   Theo ông, tranh cãi có nên là một kỹ năng cần đưa vào dạy ở trường lớp không?   - tranh luận là then chốt của các ngành tầng lớp và nhân bản để đi đến sự thực, như đã nói ở phần đầu.

Trong nhiều thế kỷ trước đây, ngưòi da mầu bị người da trắng coi là thiếu sáng ý, lạc hậu, và đã có nhiều nhà khoa học “chứng minh” giả thuyết này. Xin trân trọng cảm ơn ông!   Hạnh Ngân    (thực hiện).

Cho đến giờ, chúng ta vẫn chưa có một ngành truyền thông tự do, trung thực; chưa có một nền kinh tế thị trường đích thực để đo được thành quả hoặc thất bại thật; v. Cũng đã từng có những thuyết lệch lạc được nhận như sự thực một thời gian, nhưng rồi cũng bị đào thải. Vậy có phải việc tranh biện trong giáo dục, giữa một bên là tía một bên là học viên – là một “cuộc chơi” không có trọng tài, và ưu thế ngay từ đầu dường như đã nghiêng về đay nghiến là những người nắm giữ tri thức - đã làm nản chí bất cứ sinh viên muốn lùng câu đáp xác đáng nhất cho vấn đề họ quan tâm?  - Tiền đề (premise) này không ổn lắm.

Trong lớp học, giảng viên mở mang tầm nhìn cho sinh viên, qua những bài đọc, bài thuyết giảng hay những công tác tự tìm tòi.

Việc tìm ra ai đúng ở một môi trường như giáo dục – vốn hiển nhiên được cho là dạy toàn điều đúng – có giá trị như thế nào?  - Tôi không hẳn đồng ý với cái “vốn hiển nhiên cho là dạy toàn điều đúng”. Có những trường tuy nói là dạy “tư duy phản biện” nhưng vẫn dạy theo hướng “một chiều” chứ chưa thực tâm khuyến khích sinh viên, học trò theo đuổi những luồng tư duy khác.

Ta phải luôn luôn dùng đầu óc của chính mình, học hỏi cho chính mình, và quyết định cho chính mình trước đã. Gallileo, dù có phải “phản tỉnh” để tránh bị hỏa thiêu, nhưng chung cục vẫn được xác nhận là người đã tìm ra sự thực về vũ trụ. Hiển nhiên là trường các cấp phải dạy và khuyến khích khả năng tranh cãi

Đi tìm sự thật ở nhà trường Việt Nam

Trừ thời trung thế kỉ ở Âu châu, truyền thống bàn cãi đã phát triển mạnh mẽ qua các triết gia Hy Lạp, La Mã, rồi nối tiếp lại từ thời Phục Hưng (Renaissance) cho tới nay.

Các vấn đề xã hội và nhân bản cũng luôn thay đổi. Tranh luận hiếm khi xảy ra ở trường lớp, trong khi ở các diễn đàn bên ngoài HSSV vẫn vô cùng háo hức với vô khối chủ đề khác nhau.

Thứ nhất vì ta không biết đâu là cùng. Chúng ta chỉ trưởng thành được khi chúng ta bằng lòng dương gian này không có gì tuyệt đối, và đôi khi cái mà chúng ta tôn là đạo đức lại là một cái gì vô nhân đạo. Hằng bao lăm đời bố mẹ “thương cho roi cho vọt” nhưng hiện giờ chúng ta cũng đã nhận ra là “thương cho ngọt cho bùi” có khi còn hiệu quả hơn.

V…. Có những vấn đề từ nguyên thủy của loài người đến nay, chúng ta chưa phải chạm trán, nhưng hiện giờ là một vấn đề rất thực tại. Ở các nền giáo dục tiên tiến, đây là những phương pháp có tính cạnh tranh giúp đổi thay môi trường và không gian học tập cho giới trẻ; xây dựng khả năng tư duy độc lập, trách nhiệm trong trình bày tư duy và thái độ coi trọng trong giao tiếp.

Chỉ như vậy, người sinh viên mới phát huy được khả năng nghĩ suy, tranh luận, và thuyết phục được người khác. Còn ở Việt Nam, câu chuyện "tranh biện" và "tư duy phản biện" ở trong nhà trường ra sao? VietNamNet giới thiệu một góc nhìn của GS Vũ Đức Vượng, Giám đốc Chương trình Giáo dục Tổng quát, ĐH Hoa Sen, TP HCM.

Họ giỏi về nhiều ngành, từ khoa học đến chính trị, từ kinh tế đến giáo dục, từ nghệ thuật đến quân sự, ngay cả khôi hài…. Tôi cũng muốn thận trọng người đọc là “lấy người học làm trung tâm” cũng chỉ là một phương thức giáo dục thôi, chứ không phải là mục đích của giáo dục. Mục đích, hay triết lý, của giáo dục phải là đào tạo đời đi sau mình không những “thành tài” mà còn phải “thành người” nữa.

Giảng sư cũng có thể đặt những câu hỏi để sinh viên phải nghĩ suy, tựa như cách dạy của Socrates 25 thế kỷ trước, hoặc tạo thời cơ cho sinh viên tranh cãi với nhau.

Nền giáo dục đại học ở những nước này cũng theo một truyền thống đó, đòi hỏi nghiên cứu khoa học dựa trên tìm tòi, tranh biện, so sánh của nhiều người. Bên Âu Mỹ, có một chủng tộc tuy ít người và bị ngược đãi hàng nghìn năm, nhưng lại rất có ảnh hưởng trong từng lớp, là nhóm dân Do Thái. Một điểm nữa không kém quan trọng là chúng ta phải trọng sự dị biệt ở người khác. V… nói thế, chúng ta đủ hiểu tại sao tư duy phản biện của mọi giới, chứ không riêng gì sinh viên, bị bại liệt đi.

Thành ra, con người vẫn hy vọng là với bàn cãi, chúng ta sẽ dần dần tìm ra sự thực về chính chúng ta, và về xã hội chúng ta đang sống. Hoặc những lời dạy của Khổng tử về thân phận phụ nữ đã từng được coi như “chân lý” ở Á châu trong nhiều thế kỷ. Điều gì sẽ xảy ra nếu tranh biện đấu bị “từ chối” trong giáo dục?   - Chúng ta, và con cháu chúng ta, sẽ tiếp tục lụn bại trước những thăng trầm của lịch sử, sẽ mãi mãi đuổi theo các nước khác, ngay cả những nước làng giềng, nghèo hơn như Lào, có thể ít tấn sĩ hơn như Campuchia hay Miến Điện, hoặc ít tài nguyên hơn như Singapore.

Lúc nhỏ, lớn lên trong miền Nam, tôi không quan hoài lắm đến chính sách giáo dục thời đó; nhưng giờ nhìn lại, tôi mới thấy cái chính sách phần nào có vẻ “đem con bỏ chợ” ấy (laissez faire) lại giúp văn chương miền Nam ưng ý, ngay cả cưu mang được những Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn, Phạm Thiên Thư, Tạ Tỵ, Phạm Duy, Duyên Anh, Chu Tử, Trần Văn Trạch, AVT, v.

Đó là thách thức của giáo dục ở mọi nơi, qua mọi thời đại, và không dễ gì đạt được. Sau hơn ba năm sống và làm việc ở Hà Nội và Sài Gòn, tôi càng ngày càng có cảm nghĩ nước ta đã đánh mất cơ hội để xây dựng một Việt Nam tự tin, phồn thịnh, nhân bản và hạnh phúc trong thế kỷ này.

Hoặc bao lăm đạo trên thế giới ngày nay, dù đều dạy thương tình nhau, nhưng trong thực tại vẫn còn tranh nhau ảnh hưởng, hay có những nhóm quá khích còn dùng đạo để đạt những mục tiêu vô nhân đạo. Như đã nói ở trên, cái giáo dục từ chương mà ta ứng dụng ở Việt Nam từ thế kỷ thứ 11 đến nay không thể coi được là “dạy toàn điều đúng.

Chả hạn như thế hệ chúng tôi sẽ bắt đầu phải quyết định sống đến bao lâu là đủ, sống như thế nào mới là đáng sống; và tôi nghĩ nhiều người trong chúng tôi sẽ phải chọn một lối hành xử sao cho đẹp, cho đàng hoàng, với chính mình, với gia đình mình, và với từng lớp nói chung.

Giảng viên là người dẫn đường chứ không phải là người tranh cãi với học trò, sinh viên. Cho đến bây chừ, ở Việt Nam ta hồ hết các trường vẫn chưa thoát ra khỏi được cái tư duy “bảo thủ” đó, nên tuy ngoài miệng nói “tư duy độc lập” nhưng trong hành xử, phần nhiều vẫn ngồi chờ “chỉ đạo” từ trên xuống; hoặc như ngay Bộ GD-ĐT và các ủy ban quần chúng cũng không dám nới cái vòng kim cô đè nặng trên trường các cấp.

Trong các môn khoa học từng lớp hoặc nhân bản, một là vì tình cảnh phức tạp hơn (cứ thử định nghĩa hai chữ “tình yêu” đi) và hơn nữa, nhà nghiên cứu tầng lớp chỉ có thể quan sát và phân tách, chứ không thể dùng con người để thí điểm như nhà sinh vật học dùng con chuột bạch, nên tìm ra sự thực buộc lòng phải tranh luận.

Những khái niệm như debate, critical thinking được dạy rộng rãi ở đại học nước ngoài, khi vào trường đại học ở VN thì phát triển thế nào, thưa ông?  - Nói chung, giáo dục phương Tây (hồ hết Âu và Mỹ châu) đặt nền tảng trên logic, do đó tranh luận, phản biện, hoặc so sánh các quan điểm dị biệt là chuyện chẳng thể thiếu.

Thứ hai, con người biết dùng đầu óc và chúng ta xoành xoạch tiến tới chứ không chịu đứng yên. Tất nhiên đây là trách nhiệm của đời chúng tôi, và phần nào của đời đàn anh chúng tôi nữa, nhưng tôi không khỏi tiếc nuối là di sản chúng tôi để lại cho con cháu trong thế kỷ này, nhất là về mặt giáo dục, thật là quá khiêm tốn, nếu không muốn nói là đã tụt hậu nhiều.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét